english version

Đón Tiểu Vào Chùa

Sư Ông Thích Tịnh Từ

Ngày bỏ nhà vào chùa, trên đường đón xe đò đi từ đường cái quan làng Long Hưng, tỉnh Quảng Trị vào chùa Báo Quốc Huế, tôi có cảm tưởng như mình đang trở lại nhà sau nhiều năm lưu lạc. Làm thế nào để được về lại ngôi nhà tâm linh mà có thể là nhiều kiếp xa xưa mình đã từng trú ngụ? Tôi chỉ một lòng niệm danh hiệu “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát”. Niệm như một bé thơ tưởng tới mẹ và đi tìm mẹ.

Trên đường đi từ nhà ra đường cái quan, ngang qua chiếc cầu tre lắt lẻo bị nước cuốn vì mưa bão, tôi đã bị nước mang đi và nhận chìm giữa cơn lũ tháng mười. Trong lúc bị tai nạn, lòng tôi rất bình tĩnh và miệng liên hồi niệm danh hiệu mẹ hiền Quán Thế Âm. Không biết tôi đã bị nước cuốn trôi bao lâu, nhưng lúc gần xế chiều khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm phơi nắng trên cồn cát trắng, cận đường cái quan. Không bao lâu có chiếc xe đò dừng lại “rước” tôi vào chùa Báo Quốc Huế. Thay vì lấy tiền, ông tài xế đã cho tôi quá giang miễn phí.

Hôm đó là một ngày trời mưa tầm tã trên phố Huế. Tôi lội giữa cơn mưa từ đường cái vào chùa ướt như con chuột lột. Vừa vào đến hiên chùa Báo Quốc, có chú Sa di Tâm Hòa là người cùng quê với tôi ở làng Long Hưng, chú đưa tôi đến phòng Sư ông Viên Giác “ra mắt”. Sư ông là vị thầy trong chúng lớp lớn của chùa Báo Quốc. Bấy giờ Sư ông đi hành đạo, sáng lập và đang trú trì ngôi chùa Giác Hải ở làng Xuân Tự, tỉnh Khánh Hòa, cách Nha Trang chừng sáu chục cây số. Vừa gặp Sư ông là như một cái máy, tôi quỳ mọp xuống đảnh lễ người với tất cả nỗi vui mừng , sợ kính và xúc động khó tả. Sư ông không hỏi tôi tên là gì, con cái nhà ai, từ đâu tới, mà sư ông chỉ nhìn tôi với đôi mắt đầy thiện cảm và hoan hỷ, rồi chỉ hỏi tôi một câu ngắn gọn, “Con đi tu để làm gì?” Tôi liền ứng khẩu trả lời một cách dứt khoát, không do dự, không chậm trễ: “Thưa thầy, con đi tu để mai mốt làm giảng sư”. Giảng sư tức là vị thầy tu chuyên trách diễn giảng đạo lý theo tinh thần lời Phật dạy cho nhiều người nghe để phát tâm tu học, chuyển hóa mê lầm và đau khổ.

Sau khi nghe tôi trả lời, sư ông gật đầu mấy cái, rồi dẫn tôi đi ra phía sau hàng hiên nhà bếp để cạo tóc. Tôi được sư ông chừa lại một cái vá tức là chòm tóc nhỏ trên đầu. Nếp áo quần học trò màu xanh dương của tôi được sư ông cho thay đổi bộ quần áo nhạt màu nâu của chú tiểu ở chùa. Lần đầu bận bộ quần áo rộng thùng thình, nhưng tôi có cảm giác như mình vừa cởi bỏ một vật gì nằng nặng trong tâm và trên cuộc đời. Cũng từ đó sư ông đặt cho tôi pháp danh Nguyên Nguyện. Khuya hôm sau, mới ba giờ sáng, hai thầy trò mang hành lý cuốc bộ ra nhà ga xe lửa, lên chuyến tàu sớm để vào Nha Trang, về chùa Giác Hải. Tôi đã về với căn nhà tâm linh và tôi đã gắn bó với thầy tôi, với huynh đệ, với Phật tử mọi giới, với Phật pháp suốt gần nửa thế kỷ qua.

Đợi đến ba năm sau hành điệu, giáo dưỡng cách sống của một nhà tu bởi tình thương của sư ông, tôi được thọ mười giới Sa di và được sư ông cho phép đến Phật Học Viện Phổ Đà, Đà nẵng theo đại chúng tu học cả hai chương trình Phậ học và văn hóa phổ thông. Đó là vào năm 1958. Trong bữa tiệc tiễn chân tôi nhập viện tu học, sư ông tâm sự cho đại chúng nghe về “sự tích” Đón Tiểu Về Chùa: “Chú Nguyên Nguyện đến chùa ta là do Đức Bồ Tát Quan Thế Âm mách bảo, thúc dục thầy ra chùa Báo Quốc ở Huế để đón chú bé về chùa tu học. Chúng ta tin tưởng, thầy trò chúng ta tin tưởng là tương lai chú bé này sẽ làm giảng sư, làm pháp sự nối chí thầy tổ, trao quyền chánh pháp, đi khắp đó đây, mở mang đạo Phật và lợi ích quần chúng. Sau khi nhập thất ba tháng, tụng trì và lễ bái mười bộ Kinh Pháp Hoa, mười bộ Kinh Hoa Nghiêm, mười bộ Kinh Bát Nhã và Kinh Niết Bàn, thầy định quy ẩn hai năm trên vùng núi Xuân Sơn để tịnh tâm. Nhưng một sáng trong cơn thiền định, thầy tiếp xúc với một ông lão tóc bạc như tiên, dắt trâu đi cày ruộng nói với thầy là “làm ruộng phải có người cày bừa giỏi lúa mới tốt, thóc mới đầy bồ.” Ông lão ấy dặn thầy nên đi gấp ra chùa Bảo Quốc Huế, đón chú nhỏ về nuôi. “Chú nhỏ ấy có căn khí, tương lai cày bừa giỏi và có thể làm nên sự nghiệp trí tuệ cuả người xuất gia.” Ông lão tự xưng là học trò của Đức Quán Thế Âm Nam Hải và nói là ghé qua đây nhắn gởi chỉ thiền sư một việc, một việc rất quan hệ thầy tổ, tông môn của thiền sư. Nguyện quy ẩn của thiền sư là tốt, song phải tìm học trò có tâm huyết để truyền trao yếu chỉ, nhằm hiển dương chánh pháp sau này là điều tốt hơn. Có một bé trai 14 tuổi sẽ đến chùa Bảo Quốc tại Huế vào ngày…tháng …năm…, họ Nguyễn, tên là Đại Quang. Thiền sư hãy mau thân hành đến chùa Bảo Quốc để mang chú bé ấy về nuôi, chớ bỏ mất cơ hội.” Kể đến đó, thầy tôi thong thả bước tới và ôm tôi vào lòng.

Thầy tôi đã nghe theo lời chỉ bảo của ông lão trong cơn thiền định, nên sáng hôm sau thầy tôi mua vé xe lửa ra chùa Bảo Quốc ở Huế dẫn tôi vào chùa nuôi. Sau ba năm hầu sư ông, người cho tôi đi xa, tiếp tục việc tu học với các tăng thân khác qua hệ thống đào tạo nhân tài của giáo hội qua các Phật học viện trung phần. Trong buổi tiệc và sinh hoạt tiễn chân, sư ông có cho tôi bài kệ với tất cả tâm huyết của người. Chính nhờ bài kệ “phú pháp” của sư ông mà hạnh xuất gia và tâm bồ đề của tôi không thối chuyển. Bàì kệ một câu năm chữ, gồm có 28 câu như sau:

“Con nên hằng ghi nhớ

Lời của thầy nhắc khuyên

Học phật chuyển tập khí

Ái dục và sân, si

Phát triển Giới, Định, Tuệ

Hạnh Quán Âm cứu khổ

Bởi năng lực từ bi

Con chăm lo thường niệm

Ngày đêm chớ lãng xao.

Thường niệm Đức Quán Âm

Như nhớ nghĩ mẹ hiền

Con thơ hằng nhớ mẹ

Mẹ trăm phần nhớ con

Thầy trò mai xa cách

Thân này dù mất, còn

Không phải điều trọng yếu

Hãy giác ngộ chân tâm.

Tập sống cho thảnh thơi

Oai nghi hằng vững chãi

Phước huệ ngày càng tăng

Khế hiệp đạo chơn thường

Giúp mình cùng người khác

Thành tựu quả vô sanh

Thoát ly nẻo sanh tử.

Tình huynh đệ gắn bó

Nghĩa đồng môn chớ quê

Quê hương chờ con đó

Đạo pháp hằng trông mong…”

-trích từ quyển "Linh Ứng Quan Thế Âm" Tu Viện Kim Sơn