english version

NĂM ĐỨC CỦA SA DI

Kính Bạch Thầy,

Theo lời dạy bảo của Thầy, và theo những điều con học hỏi được ở kinh sách thì con được hiểu chữ Đức là công đức, là phước đức, là đạo đức, là những điều lành, là sự ăn ở theo giới hạnh, là việc làm có lợi ích cho chúng sanh ấy là có Đức.

Con lại thường được cha mẹ con dạy bảo từ lúc còn bé là phải ăn ở sao cho có nhân có đức, tránh làm điều dữ, luôn luôn làm điều lành điều thiện, vì làm điều ác, với tâm nham hiểm thì tổn hại đến cái đức của mình.

Con lại còn nghe người đời thường nói ăn ở có nhân có đức, là để lại cái phước đức cho con cái, nên người ta bảo: con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ. Các vị tu hành đắc đạo thành Phật thì có được bốn đức lớn: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Còn kẻ mới phát tâm bồ đề, mới xuất gia, thọ giới Sa Di thì nương vào năm đức để tu hành. Và cái động lực nào thúc đẩy người đi tu, rời bỏ gia đình để xin học đạo để có đức? Phật dạy, nhờ năng lượng mạnh mẽ đó thúc dục, lôi kéo cái ước vọng phải đi tu gọi là phát Bồ Đề Tâm. Phát Bồ Đề Tâm theo Sư Ông Nhất Hạnh dạy: "Chúng ta biết là trong đạo Bụt, hiểu biết và thương yêu là một. Nếu không hiểu biết được người kia thì chúng ta không thể thương được người kia. Bi là thương, Trí là biết. Bi và Trí đi đôi với nhau.... Tâm Bồ Đề là tâm hiểu biết mà cũng là Tâm thương yêu... Vì muốn thương yêu cho nên ta đã đi xuất gia. Ta đã thấy được những khổ đau trong cuộc đời. Chứng kiến những khổ đau đó ta thấy trong tâm phát sinh tình thương. Ta muốn làm một cái gì, muốn sống như thế nào để có thể cứu độ được những người đang đau khổ quanh ta, cho nên ta đi xuất gia. Động lực xuất gia như vậy là do Tâm thương yêu." Thật là đơn giản, dễ hiểu mà cũng thật cao cả nhiệm mầu và thiêng liêng, vì với một tình thương rộng lớn, thương tất cả chúng sanh đang lặn hụp trong cõi trầm luân khổ hải. Phật đã lìa bỏ tất cả, cả vợ đẹp con ngoan, cả cha già và ngôi báu để tìm đường giải thoát cho muôn loài. Còn sự hy sinh nào vĩ đại hơn, còn sự dấn thân nào cao quý hơn, chỉ vì tình thương yêu và muốn cứu khổ cho tất cả chúng sanh đang đau khổ.

Con nhìn lại bản thân con, con chia cuộc đời con ra làm hai giai đoạn: Con người của con lúc còn trẻ, và con người của con lúc về già. Con thử đặt giả thuyết giá như lúc còn trẻ con có duyên may được xuất gia để có năm đức thì con đã được những thuận lợi gì và những gì không thuận lợi. Cũng như thế, con lại quán chiếu vào hoàn cảnh hiện tại của con khi đã lớn tuổi, con được về nương tựa Tam bảo, con đã có được những gì trợ duyên và những gì trở ngại đối với con.
Con vẽ ra một bản phân tích, so sánh những điểm mạnh và những điểm yếu của người già và người trẻ khi đi tu. Năm Đức của người mới cày ruộng Phước Điền, người trẻ và người già gặt hái và thu lượm khác nhau.

1. Thứ nhất: Phát tâm lìa bỏ thế tục, vì hâm mộ Chánh Pháp.
Già: - Một khi đã hâm mộ Chánh Pháp người già lìa bỏ thế tục dễ dàng vì đã trải qua, đã nếm đủ vị chua cay, chát đắng của cuộc đời cho nên không còn lưu luyến mơ ước hão huyền khi đã nhiều lần ê chề khổ đau, và thất vọng.
- Đến khi nếm được vị Giải Thoát, vị An Lạc của Đạo Phật, người già như thấy được một chân trời mới tươi sáng, an ủi tuổi già, mừng vui gặp được hạnh phúc vì đạo Phật đã giúp đỡ giải trừ được phiền não, âu lo.
- Người già có cái trở ngại là vì sống đã lâu nên các thói hư tật xấu đã quá ăn sâu vào tập quán, vào tiềm thức, vào thói quen nên khó sửa chữa.
Trẻ: - Người trẻ cần có một sự phấn đấu mãnh liệt khi dứt áo ra đi vì dưới mắt người trẻ tuổi, đời là một màu hồng đầy hoa thơm cỏ lạ, còn nhiều ước mơ, còn nhiều quyến rũ. Vì vậy, nếu muốn quyết chí xuất gia người trẻ tuổi phải có một niềm tin sắt đá vào Chánh Pháp, vào đạo Giải thoát. Tin tưởng rằng, chỉ có Đạo Từ Bi, Đạo Trí Tuệ là mục đích, là cứu cánh của đời mình và phát tâm bồ đề, cố gắng nuôi dưỡng cái tâm ấy rất dõng mãnh mới thắng được những lôi cuốn rất hấp dẫn khi người trẻ mới bước chân vào đời.

2. Thứ hai: Hủy bỏ cái đẹp của hình hài, vì để thích ứng với pháp phục.
Già: - Với người già, da đã nhăn, tóc đã bạc, răng đã rụng dần, không cần hủy bỏ cái hình hài, thời gian cũng đã đóng góp tàn phá hết sắc đẹp, hủy hoại lẩn thể xác và tinh thần.
- Màu áo hoại sắc với người già rất thích hợp hơn màu mè lòe loẹt chỉ trừ những người không muốn tu mới ưa trang sức, chứ các vị già nua không quan tâm đến cái đẹp bề ngoài vì họ đang đi tìm cái đẹp ở bên trong, cái đẹp của tâm hồn khi muốn nương tựa cửa Phật.
Trẻ: - Tóc còn xanh, thân thể còn tráng kiện, sức sống rạt rào đang lên, cắt bỏ mớ tóc huyền là cả một hy sinh to lớn, còn bên phái nam, cắt bỏ bộ râu cũng là một khổ cực.
- Vì tánh còn ưa trang sức bên ngoài nên cạo râu cắt tóc là một trở ngại.
- Nhưng một khi muốn đi xa, muốn vươn lên, muốn có cuộc sống nhiều ý nghĩa thì ăn nhằm gì những việc nhỏ nhặt đó một khi lòng đã quyết xuất gia.

3. Thứ ba: Vĩnh viễn cắt bỏ ái ân, vì không còn thân thích.
Già: - Điểm nầy người già gặp khó khăn nhiều vì đã lỡ gây, tạo lập gia đình, có vợ chồng con cái nên còn phải chịu trách nhiệm, còn phải có bổn phận cho nên khó lòng xa lìa cắt bỏ những dây ràng buộc tình cảm thương yêu. Người già thường bị ốm đau, không dám rời con cháu vì ở gần để nhờ vả, cần sự giúp đỡ không những về mặt vật chất, mà còn rất cần về tinh thần vì người già rất sợ cô đơn, với cái tinh thần ỷ lại "trẻ cậy cha, già cậy con."
Trẻ: - Trẻ cũng gặp khó khăn vì sức khỏe đang vươn lên, vì nhu cầu tâm sinh lý đòi hỏi.
- Vì còn phải đền ơn cha mẹ, công ơn sinh thành dưỡng dục.
- Nhưng nếu tìm hiểu sâu xa thì sẽ thấy khi đi tu là thiết thực thương yêu cha mẹ, thương yêu người thân vì đi tu là đem một tình thương rộng lớn bao la cho tất cả mọi người trong đó có cha mẹ và người thân yêu của mình. Tu là cội phúc, tình là giây oan, có nghĩa tu là nguồn gốc của phước đức, và tình yêu vị kỷ là sợi giây oan nghiệt xiết chặt con người.

4. Thứ tư: khinh thường tánh mạng, vì tôn sùng Phật Pháp.
Già: - Người già yếu bị ốm đau thì sống đâu có hạnh phúc, nếu hiểu biết đạo Phật thì lại mong cầu cho mau chấm dứt cái báo thân nầy, cầu xin sớm về Tây Phương Cực Lạc nên coi thường cái sanh mạng nầy vì sống nhiều càng thêm khổ.
- Vì tôn sùng Phật Pháp, nhờ hiểu được cái thân tứ đại nầy do nhơn duyên mà hợp lại, khi hết nhơn duyên thì tan rã nên rất bình thản coi thường không sợ chết.
Trẻ: - Tuổi trẻ khi đã tôn sùng Đạo pháp thì có đức tin rất vững bền, lại có nhiều nghị lực nên đâu sợ chết chóc. Đã có nhiều gương hy sinh cao cả xả thân vì đạo như ngài Bồ Tát Quảng Đức xả báo thân bằng lửa thế gian, đã nêu cao chánh pháp, làm bài học cho đời khiến cả thế giới ngưỡng mộ. Biết bao vị Tăng Ni theo gương ngài, về phía Gia Đình Phật Tử biết bao anh chị trưởng đã hy sinh vì đạo vàng, vì lý tưởng màu lam cao quý.

5. Thứ năm: Chí cầu Đại thừa, vì để hóa độ chúng sanh.
Già: - Mục đích đi tu là tìm hiểu Đạo Phật để tu học, để rèn luyện, sửa chữa con người xấu xa của mình trở thành con người tốt, để được tự lợi, và còn vì lợi tha, còn muốn giúp đỡ cho người khác cũng được an vui, thanh thản, vững chãi, thảnh thơi, hết phiền não, hết khổ đau như mình. Người già với cái vốn thời gian không còn lại bao nhiêu cho nên còn ít ngày giờ để tu học, là điều bất lợi của người đã lớn tuổi khi đi tu. Vã lại trí nhớ cũng kém đi, sức khỏe sa sút không còn bền bỉ, dẻo dai để trì tụng kinh điển, công phu hôm sớm cùng tăng chúng.
Trẻ: - Tuổi trẻ sức khỏe còn dẽo dai, trí tụê còn minh mẫn sáng suốt, nên tu tập chóng có kết quả.
- Tương lai lại còn dài, còn nhiều thời giờ để công phu rèn luyện và để hóa độ chúng sanh.
- Chỉ có trở ngại là tuổi trẻ còn ham vui, chưa thấy được nhiều các nỗi thống khổ đau thương của chúng sanh, của cuộc đi, của nhân loại đang rên xiết quằn quại trong bao kiếp luân hồi sanh tử. Nhưng tuổi trẻ giàu lòng vị tha nên cái đức hóa độ chúng sanh giúp ích cho đi và cho xã hội rất hăng say, siêng năng và sốt sắng.

Kính bạch Thầy,
Con đã mạo muội, vừa thơ ngây vừa lẩm cẩm so sánh để tìm hiểu cái thuận lợi và cái không thuận lợi của người đi tu lúc còn trẻ và của người đi tu lúc tuổi đã về già, người đó là con. Lợi điểm giữa người lớn tuổi và người trẻ đi tu xuất gia cầu đạo, làm lợi ích cho mình và cho người, con nhận thấy người trẻ có nhiều thuận lợi hơn người già. Điều cốt yếu là người trẻ phải sớm giác ngộ, phải thấy đời là bể khổ, các thú vui đều tạm bợ chốc lát mà cái phiền não, khổ lụy thì lại triền miên cay đắng.

Ví như con có thể làm lại cuộc đời, lui lại thời gian năm mươi, sáu mươi năm trước, con sẽ được gặp chú tiểu Phổ Hòa từ lúc bé thì con tin là chú tiếp thu, tu tập dễ dàng vì tâm trí còn trong trẻo minh mẩn; cái tách trà của chú chưa chứa đầy nước "thành kiến" như của vị khách trong một câu chuyện về thiền.

Và hiện tại sáu mươi, bảy mươi năm sau, con đang gặp chú tiểu Phổ Hòa già nua, chỉ có lợi điểm là chú đã thấy rõ chân tướng, mặt thật của cuộc đời, chú không còn ham muốn, không còn thích ganh đua với đời mà chỉ còn có phấn đấu với mình để ngày hôm nay khá hơn ngày hôm qua, và ngày mai phải khá hơn ngày hôm nay về công phu tu tập để đưa lần cái Tâm về nơi thanh tịnh, vững chãi, an lạc, thảnh thơi, tĩnh lặng chuẩn bị cho một kiếp sống mới được sớm giác ngộ xuất gia cầu đạo Bồ Đề.

A DI ĐÀ PHẬT.
Con kính xin Thầy soi sáng cho con,
Thích Phổ Hòa