english version

Tản Mạn Với Thầy 3: BÊN KIA BIỂN

Trần Mạnh Toàn

Nắng mới chan hoà trên Đất-lành ( Meekland), nhuộm sáng ngôi chánh điện đang dần dần thành hình trong vẻ bề thế và "chính danh" khiến cho cái kiến trúc nhỏ nhắn, quen thuộc bằng gỗ sơn xanh ở trước nó, sơ cơ của Phổ Từ, chẳng bao lâu nữa sẽ chỉ còn là một tấm trong tập hình kỷ niệm của chính ngươì đã tạo dựng nên nó. Sự hoá thân này của Phổ Từ là cần thiết cho một quá trình lớn mạnh và đi lên của tổ chức nhưng hình dáng cái nếp nhà khiêm tốn từng vang vọng tiếng kinh sớm chiều ấy hẳn còn bịn rịn dài lâu trong ký ức người thường trú. Nắng đầu xuân nhẹ và tươi làm rực rỡ thêm sắc hoa bên bậc cửa. Ánh mắt dịu dàng của vị sư trưởng khi đón khách bỗng trầm ngâm. Tưởng không phải là tình cờ mà cùng nhớ lại chuyện đúng ba mươi năm trước.


Tháng ba một ngày nguyệt tận.
" Hai mươi bốn tháng ba, ngày mà xứ Huế lên cơn sốt nặng nề sau những biến động của thời cuộc. Giòng nước sông Hương lặng lẽ trải dài màu ảm đạm, cầu Gia Hội vắng bóng khách bộ hành, tiếng chuông Linh mụ cũng ngân vang âm điệu bi ai, sầu thảm như xót thương cho số phận người dân cố đô vốn đã chịu lắm khổ đau, nay lại mang thêm nhiều đau khổ. Và từ đó con đã ra đi... đi tìm tự do cho cuộc sống ..." (1) Đấy là hồi ức của Thầy vài năm sau đó. Thực thế, cơn hồng thuỷ đã đẩy bao người ra biển Đông trong đó có người con của Lương Văn tuổi đôi mươi. Giờ đây, người tăng sĩ không muốn gợi lại những đau khổ và mất mát mà bà con, xóm giềng cùng đồng hương đã phải nhận chịu trong vận nước nhưng chẳng quên những run rủi, may mắn mà mình gặp được trên đường bôn đào. Một chỗ an toàn và miễn phí trên con tàu xuôi Nam lánh nạn mà một người chủ gia đình đảm đang đã sốt sắng dành cho. Những ưu tiên về thủ tục nhập cảnh vào vùng đất mới được đặc cấp cho 17 người đồng ngũ là thành phần còn lại của một đơn vị lưu lạc từ tuyến đầu. Những may mắn tình cờ ấy càng nghe càng khiến cho người ta không khỏi nghĩ đến từ một ơn thiêng. Chuyến vượt biển ấy có thêm ý nghĩa của một cuộc hành trình tìm điểm đến cho tâm linh bởi vì không bao lâu người thanh niên Lương Văn đã tự tìm đến chốn khói hương tạm thời cho người tị nạn ở trại Chafee và nảy sinh ý nguyện xuất gia từ đây
" Phật tiền ngày bạc lân la ...".
Fort Chafee ở một tiểu bang nằm trong lục địa, Arkensas, vốn là một nơi quân thứ , khi ấy trở thành nơi trú chân cho hàng mấy ngàn người dân Việt . Ngoài thức ăn, nước uống, y phục, giải trí không thiếu, nhu cầu tâm linh của đoàn người ở đây cũng được chiếu cố . Điều này nên được ghi nhớ là công chu đáo của nước chủ nhà. Hẳn không ít người còn ngạc nhiên khi thấy sự hiện diện của một nhà sư trẻ đồng thời cũng là một du học sinh , thầy Tịnh Từ, trong trại Chafee tuy phần lớn sinh hoạt của nhà Phật thu gọn vào thời công phu mỗi chiều. Người đoàn sinh áo lam Lương Văn năm xưa là một trong những người đầu tiên " ứng nghĩa" đến nơi vốn là một hí trường của căn cứ để góp tay quét dọn, sửa sang thành nơi qui ngưỡng tạm thời cho những người hướng phật.Ngôi phật đường Chafee đơn sơ dường ấy nhưng cũng đủ tự khí, pháp khí, cả đôi chữ nho thường thấy ở mấy ngôi chùa cổ : Pháp luân thường chuyển.Phật nhật tăng huy. Và cả bức tiếu tượng lớn đức Thế tôn ngự trên toà sen - một tác phẩm nghệ thuật của nghệ sĩ họ Vũ sau này trở thành một cố tri - Ngôi phật đường ấy nên được kể là trú xứ thứ nhất của Nguyên Thọ, người thường xuyên giữ nhịp cho câu kinh chiều bằng tiếng đồng và tiếng gỗ. " Tuy thế ", Thầy nói , " chỉ có thầy Tịnh Từ và một thày khác trú trong Niệm Phật đường, vì chỗ ở chật chội lắm. Còn tôi, mỗi tối, khi hết việc thì trở về chỗ của mình trong trại ".


Thế rồi cuộc sống " ăn chung ở trại " của những người di tản kéo dài được 7 tháng. Vào một ngày cuối tháng chạp cùng năm, Chafee chấm dứt nhiệm vụ của nó. Người người phân tán đi bốn phương để bắt đầu việc tự xây dựng cuộc sống mới cho cá nhân và cho gia đình mình..Người thanh niên của Lương Văn - khi ấy còn khá nhiều nét thư sinh - cũng rời trại mà hành trang cá nhân lúc lên đường chỉ có "món" duy nhất là ước mơ của tuổi trẻ.
" Hãy tự thắp đuốc lên mà đi " - lời Như Lai -
" Lý tưởng Bồ tát hạnh mở ra một lối sống vừa cao thượng, vừa lợi lạc, mà trong đó, chính yếu hơn cả là đáp ứng được "cơn khắc khoải" đang dằn vặt trong lòng mình - làm sao trả chữ hiếu cho cha mẹ. Tôi nhận lấy ngay và tin tưởng đây là sinh lộ cho mình trong cuộc sống xa nhà, xa cách mẹ cha đang sống bên kia biển Thái bình dương"(2) Người thanh niên Nguyên Thọ đã suy nghĩ như thế trước khi theo chân thầy Tịnh Từ hướng về miền tây, nơi mà như một nhắc nhở tiên thiên, vùng đất có chung với quê nhà một biển rộng !
Hồi tưởng lại những trăn trở, lưỡng lự tương tự kẻ bộ hành đứng giữa ngã ba đường phải chọn một hướng đi, Thầy không bỏ lỡ dịp để mách bảo cho người đi sau cái kinh nghiệm của mình " Phải suy nghĩ cho thật kỹ càng trước khi chọn lựa con đường xuất gia cho mình " (3).Lời khuyên ấy hiển nhiên là một nhắc nhở đối với quan niệm của những người tìm đến cửa phật do xung động tình cảm nhất thời hay cái quan niệm vẫn còn khá phổ biến xem việc nương náu thiền môn là một giải pháp cuối cùng vì không còn cách lựa chọn nào khác !
Việc được bổn sư chọn ngày đức Thế tôn xuất gia ( mồng 8 tháng 2 năm 1977) làm ngày chính thức qui Phật không hẳn chỉ là một điều có ý nghĩa với người tân tu Nguyên Thọ mà thực ra luôn nhắc nhở người, nay được liệt vào hàng trưởng tử của Như Lai, luôn nhớ đến cái hạnh nguyện của người xưa khi quyết định rời cuộc sống thế nhân để cầu pháp.


Từng là người có mặt, chứng kiến một phần cuộc tương tàn trên quê hương, từng cảm thấy nỗi đau khổ, sự mất mát của bao ngưởi chung quanh trong cuộc xung đột ấy và cũng từng mang hạnh nguyện từ lúc ấu thơ rằng sẽ một đời phụng dưỡng mẹ cha, nay hoàn cảnh phút chốc thay đổi, bị buộc phải rời xa mái ấm gia đình, người thanh niên Nguyên Thọ cảm thấy như " con chim lạc đàn vội vàng vỗ cánh bay cao như lo sợ cơn mưa thình lình đổ xuống " (4) Và sau bao trăn trở, người thanh niên ấy đã quyết định đầu phật để có cơ hội thực hiện trọn vẹn những hạnh nguyện ban đầu nhưng cao rộng hơn : phát xiển hạnh bố thí cho tha nhân Bởi thế, cũng trong năm ấy, người làm việc cũng như khách vãng lai viện dưỡng lão công giáo thánh Anne ở San Francisco ít nhiều mục kích một người phục vụ mới - một chú điệu người Việt tóc còn rất xanh - nhẫn nại và tận tình nâng giấc, chăm lo cho người già yếu.Và trong những giây phút tịnh tâm bên hang đá thờ kính đức Maria của dưỡng đường này, người tân tu Nguyên Thọ hẳn đã sớm nhận chân con đường gần nhất đến với Như Lai qua ý thức và sự phục vụ vô cầu báo cho tha nhân, cho những người thiếu may mắn.
"Tịnh Độ là lòng trong sạch,chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương..." - Cư trần lạc đạo phú -
Người mà sau này có thể tự vạch cho mình và thực hiện được những chuyến thuyết giảng qua 20 tiểu bang trong 3 tháng trời phải kể là mẫu người năng động hiếm thấy.Rõ rệt hơn cả là khi mới là một tân tu, tính năng động đã thúc đẩy người tăng rất trẻ ấy tìm kiếm cho mình một phương pháp tu học thích hợp cho mình trước đã. Không vội nhập vào nếp sống đạo vị sẵn có trong tự viện như hầu hết người mới xuất gia đều thực hiện, người học tăng Nguyên Thọ đã tự tạo cho mình sự tu trì bên ngoài tự viện , tạo lập một thời biểu tu tập riêng cho đến khi thọ sa di giới. Điều trên đã ít nhiều biểu lộ sự tự tín đặc biệt của người theo đuổi nó. Bởi vì, nếp sống qui củ và không khí thanh tịnh của tự viện là hoàn cảnh thuận lợi cho việc tu học của người xuất gia nhưng chính việc đương đầu, vượt thắng được những cám dỗ của cuộc sống phức tạp bên ngoài tự viện mới tạo nên nội lực vững vàng của người chân tu. Như thế , việc tăng cường nghiêm nhặt thanh quy với học tăng sao có hiệu quả bằng việc khuyến khích họ tự rèn luyện để tự thắng bản thân trước những cám dỗ và mê lầm.


Người đã được chọn cho một thời điểm có ý nghĩa để quy Phật còn muốn tìm kiếm cho mình phương pháp tu trì có hiệu quả. Theo dấu bổn sư, người tân tu trẻ tuồi này, từng có mặt tại Trung Tâm Zen của pháp phái Tào Động để thực hành thiền, cũng từng đến với Thiên Thai để tham cứu nhất tâm tam quán, để sau đó có thể rút ra kết luận rằng sự phối hợp khéo léovà quân bình giữa trau dồi giáo lý và sự thiền định hợp cách là phương pháp khả thi và khả thủ.
Người thường đề cao sự tự thắng là chiến công lớn nhất của sinh vật có ý thức thật xem trọng sự tu thân . Ngoài tư lương công phu sớm tối còn tự lập cho mình một thời biểu thiền và quán 2 phiên mỗi ngày vừa để sám hối nghiệp chướng vừa để soi chiếu nội tâm. Công việc khổ luyện ấy được người tân tu tự nguyện ghép mình vào ngay từ thời gian đầu chính thức đặt chân vào cửa phật.


Sau nữa, ngăn nắp, chu đáo là những đặc điểm mà ai cũng nhận ra khi lai vãng đến 2 tự viện do vị sư trưởng chủ trì.. Nhưng ít ai nghĩ rằng điều trên không chỉ là cá tính bẩm sinh mà do học hỏi và trau dồi cũng trong giai đoạn bước vào cửa phật. Phải nhận ra rằng với người tăng sinh này, việc xuất gia quả đã được cân nhắc kỹ càng và việc tu học được thực hiện một cách ý thức thuộc nhiều lãnh vực, trên nhiều khía cạnh và dưới nhiều hình thức.
Quả thế, với người tân tu đôi mươi này, nhà dưỡng lão thánh Anne ở San Francisco còn là mộtä trường học lớn mà bà giáo chính là nữ tu Blair, người khán hộ có trái tim vị tha vô biên, phục vụ cho tha nhân với ý thức tận hiến cao cả và ngôi dưỡng đường mà bà phục vụ là một kiểu mẫu của khoa học tổ chức. Như thế, khi đến viện thánh Anne để thực tập và thực hành hạnh bồ tát, người tân tu Nguyên Thọ còn tìm thấy ở nơi đây tấm gương sáng chói của người đi trước - người nữ tu Blair - để vững tin trên đường phục vụ tha nhân đã tìm được người đồng hành mẫu mực. Ngoài ra , ngày lại ngày, nguời tăng trẻ học hỏi ở đây cách thức làm việc, cách phân công, phân nhiệm, sự tổ chức khoa học nhịp nhàng để sau đó ngay từ bước đầu áp dụng và thực hiện vào công việc mà mình được giao phó. Hai muơi bốn trước đây ( 1981), ngừoi tăng sĩ trẻ đã dự vào việc tổ chức lớp học Phật cho đại chúng vào cuối tuần tại chùa Từ Quang. Lớp học bất phân nam nữ, tuổi tác, trình độ, màu da... với mục đích là " trau dồi kiến thức Phật học và bồi dưỡng đời sống tâm linh mà cứu cánh là đạt sự an lành ngay trong kiếp sống ".(5) Đến nay, hình thức thuyết giảng có thể tuỳ duyên mà thay đổi, tổ chức có thể quy mô lớn nhỏ theo hoàn cảnh thực tế nhưng mục tiêu của việc học Phật không khác lúc ban đầu.
" Xót người tựa cửa hôm mai..."
Ba mươi năm truớc, người con của một gia đình Lương Văn đã rời quê nhà trong bối rối cực kỳ. Những giờ phút ngắn ngủi của một ngày về phép trôi nhanh sau bữa cơm chiều quây quần bên những âu lo của cuộc tao loạn gần kề. Ngôi nhà thân yêu ở đầu ngõ nơi xóm Giữa một nửa lợp ngói liệt đỏ, một nửa còn lợp tôn. Ngôi nhà có cây mai rực rỡ sắc hoa nơi sân sau như nhắc người nhà thời điểm đón xuân về.Ngôi nhà ấy như nguyên vẹn hàng bao năm sau trong ký ức người đi. Mọi thứ anh đã bỏ lại khi trở lại Dạ Lê vào lúc trời vừa sáng. Anh có thể nói những gì với người thân trong lúc chia tay nếu anh nghĩ rằng chuyến rời nhà lần này khởi sự cho việc xa cách trong một nửa chu giáp. Không phải con số 30 năm tròn. Ba mươi năm lẻ 12 ngày. Người đi chẳng ngại cái đằng đẵng của việc chờ trông mòn mỏi nên đãø lấy ngày làm đơn vị để tính thời gian xa cách.


Ba muơi năm qua, người con bịn rịn chia tay mẹ để lên đường nay đã thành vị linh hướng đáng kính của một địa phận còn rưng rưng khi nhớ hình ảnh người mẹ ngày nào tay run run đẩy rơm vào bếp , nước mắt đã lưng tròng khi nghe lời chào từ giã. Dường như tình thương luôn mãnh liệt của một người mẹ đã khiến riêng người có linh cảm đây không phải là cuộc chia tay như những lần người con về phép trước đây.
Vị sư trưởng bồn chồn với thời gian tưởng như qua chậm hơn ngày thường. Hôm nay, việc được cầm lại bàn tay của mẹ, được nhìn lại ánh mắt dịu dàng năm xưa của đấng sinh thành,việc ấy chỉ còn trong gang tắc. Cuộc hội ngộ sau những đằng đẵng cách biệt có ý nghĩa của sự trùng sinh đối với người con chí hiếu.
Ngoài sân, mây trắng bàng bạc trên trời cao, nắng đầu mùa vẫn rưng rưng.


6 tháng 4 -2005
Trần mạnh Toàn
-----------------------
(1) trong đoản văn Giây Phút Nguyện Cầu ( Lắng Lòng Nhìn Lại, Thích Từ Lực, TTPG Hayward ,1998, tr. 32.
(2) trong đoản văn Lắng Lòng Nhìn Lại, sđd, tr . 195
(3) trong đoản văn Lắng Lòng Nhìn Lại , sđd, tr. 200
(4)trong đoản văn Chí Xuất Trần, sđd, tr. 29
(5) diễn văn của Thích Từ -Lực trong lễ trao chứng chỉ học Phật cho 27 học viên tổ chức tại chùa Từ Quang SF năm 1983 .