HT Thích Thanh Từ
1. TÙY HỶ
Niềm vui phát xuất từ tâm TÙY HỶ. Tùy là theo,
hỷ là vui mừng. Tùy hỷ là vui
mừng theo. Khi thấy bạn hay người thân làm
điều lành hay việc tốt chúng ta phát tâm vui theo
đó là tùy hỷ. Người làm lành vui bao nhiêu chúng
ta vui bấy nhiêu. Người phát được niềm
vui đó công đức bằng công đức người
làm việc lành. Thí dự ông A đem mười đồng
tới chùa cúng, chúng ta nghèo không có tiền cúng, thấy
ông A cúng chùa ông vui sướng, chúng ta vui theo thì công đức
của ông A cúng mười đồng với công đức
tùy hỷ của chúng ta bằng nhau. Mới nghe qua thấy
như bất công vô lý, chúng ta không cúng một xu nào tại
sao công đức bằng ông cúng mười đồng
được? Nhưng Phật nói công đức hai
nguời bằng nhau.
Có người hỏi:
-Bạch Thế tôn, tại sao công đức tùy hỷ
và công đức bố thí bằng nhau?
Phật trả lời bằng một thí dụ: Cây
đuốc thứ nhất đang cháy, có một người
cầm cây đuốc thứ hai đến mồi.
Khi mồi xong, cây đuốc thứ nhất cháy, cây
đuốc thứ hai cũgn cáy, ánh sáng hai cây đuốc
đó không hơn kém nhau. Cây đuốc bị mồi,
ánh sáng cũng không giảm bớt. Cũng vậy, người
làm việc lành, chính họ đã có công đức và
người phát tâm tùy hỷ công đức cũng ngang
bằng với người làm lành đó. Tu nhẹ nhàng
quá, không đợi chúng có nhiều tiền mới làm
được việc công đức. Chỉ thấy
ai làm lành chúng ta tùy hỷ tán thán là có công đức rồi.
Tại sao tùy hỷ có công đức lớn
như vậy?
-Người có công có của đem ra giúp người
là họ xả được tâm tham lam ích kỷ. Còn
người phát tâm tùy hỷ thì xả được
tâm tật đố, vì thông thường người
thế gian thấy ai hơn mình là sanh tâm đố kỵ.
Thí dụ hai huynh đệ đi chùa, ông A có mười
đồng cúng chùa, mình không có thì buồn rồi nói
móc nói ngoéo, chớ không có tâm tùy hỷ vui theo. Thấy
người làm được mình làm không được
sanh đố kỵ là tật xấu. Bây giờ chúng
ta phát tâm tùy hỷ là dẹp được tật đố
xấu xa nơi mình rồi.Người bố thí xả
được tâm tham lam ích kỷ, người tùy hỷ
xả được tâm tật đố thì công đức
hai người bằng nhau.
Ở thế gian, chúng ta thường thấy, thậm
chí anh em ruột trong nhà, em làm ăn thất bại nghèo
thiếu thấy anh làm ăn phát đạt được
giàu sang thì có mặc cảm đố kỵ với
anh. Do đó tình anh em phai nhạt xa cách. Tại vì sao?
Vì cái tâm tật đố không muốn ai hơn mình,
thấy người hơn mình là sanh tâm đố kỵ.
Đó là cái bệnh chung của con người. Thế
nên chúng ta học đạo phải tập phát tâm tùy
hỷ. Không phải đợi mình làm việc công đức
mới vui, mà thấy ai làm được việc tốt
đẹp, sống hạnh phúc, chúng ta đều phát
tâm vui mừng theo.
Một thí dụ nữa. Chúng ta nghèo ăn cơm
hẩm với muối hột, bạn chúng ta giàu ăn
cơm gạo lúa thơm với thịt cá đầy
bàn. Thấy như vậy chúng ta tùy hỷ nói: "Anh
sung sướng quá, tôi mừng cho anh được
đầy đủ sung túc." Thấy chúng ta tùy hỷ
người bạn giàu đó có ghét chúng ta không? Không
ghét mà thương, có thể còn giúp đỡ chúng ta
nữa. Nhưng ở đời người ta có chịu
làm như vậy không? Hay mình ăn cơm hẩm với
muối hột, bạn mình ăn cơm gạo lúa thơm
với cá thịt đầy bàn, thì mình không vui, rồi
kiếm chuyện nói xa nói gần, khiến cho tình bạn
phai nhạt dần dần xa cách? Mình đố kỵ
người ta, người ta thương mình sao được!
Từ đó mà sanh ra ngăn cách, bạn trở thành
thù do đố kỵ mà ra. Từ hoàn cảnh ăn
ở, cách xử sự, cho đến làm việc thiện
v.v... tất cả chúng ta đều tập pháp tâm tùy
hỷ. Người làm được việc mà chúng
ta không đủ khả năng làm, chúng ta nên vui mừng
theo.
Một thí dụ khác. Hồi thuở bé đi học
ở trường, khi thầy giáo kêu trả bài, hôm
nào mình không thuộc bài bị điểm nhỏ, bạn
mình thuộc bài được điểm lớn thì
mình đố kỵ ghét bạn. Bạn siêng học,
học giỏi được điểm lớn, mình
lười biếng học dở thua bạn, tại
sao mình lại ganh ghét đố kỵ? Hoặc cuối
năm học những bạn học giỏi được
khen thưởng những món quà xứng đáng, còn mình
học dở, khi thấy bạn lãnh quà, mình vui lây hay
ganh ghét rồi kiếm chuyện để thách đố?
Cái tâm đố kỵ có từ thuở bé, chớ không
phải bây giờ mới có, chúng ta mang sẵn nó từ
thơ ấu. Giờ đây biết tu, chúng ta phải
bỏ tâm tật đố, vì nó tương đương
với tham lam; tham lam có thì tật đố cũng
có. Người biết làm phước họ xả
được lòng tham, người biết tùy hỷ
bỏ được tâm tật đố. Như vậy
mỗi người bỏ được một tật
cho nên đức Phật nói: "Công đức ngang
nhau." Về sau huynh đệ đi chùa, họ có
tiền của cúng Phật, cúng Tăng, mình không có cũng
vui theo, mừng cho bạn có tiền của cúng chùa,
được như vậy thì cả hai đều
được công đức như nhau. Đừng
mặc cảm mình nghèo không có tiền của cúng chùa
không cùng đi chung. Nghĩ như vậy là trái đạo
lý. Học hiểu ứng dựng đứng với
lời Phật dạy chúng ta mới thấy Phật
pháp công bằng, không thiên người giàu, không bỏ
người nghèo. Ai cũng có phước hết chiẻ
cần có tâm lành là được.
Tóm lại trong gia đình, anh em ai được giàu
sang, ai được khá giả, ai được hạnh
phúc, chúng ta đều vui mừng như chính chúng ta được.
Ngoài xã hội từ bạn bè cho đến người
láng giềng, ai được phú quí, ai có danh vị,
chúng ta vui mừng như chính chúng ta được.
Trong đạo huynh đệ ai có cái gì hay, cái gì tốt,
chúng ta vui mừng như chính chúng ta được thì
không còn khổ, lúc nào cũng có niềm vui; vui theo cái
vui của người! Chúng ta không bị tật đố
làm cho cách biệt, làm mất tình anh em ruột thịt
trong nhà, làm mất tình bạn bè ngòi xã hội và làm mất
tình đạo bạn ở trong chùa. Được
như vậy đi đến đâu chúng ta cũng
có niềm vui, dù tay không, không giúp ai được việc
gì. Trái lại chúng ta nghèo mặc áo rách, thấy người
ta mặc áo lành thì đố kỵ xụ mặt xuống,
như vậy làm gì có vui! Đi đâu cũng buồn
vì thấy người hơn mình, buuồn tràn trề,
ở đờ làm sao mình bằng tất cả mọi
người được! Bây giờ chúng ta biết
tùy hỷ, thấy ai có cái gì hơn, chúng ta đều
vui theo, mừng cho họ. Tâm niệm của người
Phật tử phải là tâm niệm làm cho mọi người
hết khổ. Phật là vị cứu khổ chúng
sanh, chúng ta là Phật tử, tức con Phật phải
có quan niệm làm cho chúng sanh hết khổ; nếu chưa
hết khổ, ít ra cũng bớt khổ. Thấy mọi
người bớt khổ về cái ăn, cái mặc,
hoặc bớt khổ về cái gì là chúng ta vui mừng.
Nếu chúng ta đố kỵ thì không phải con Phật.
Vì vậy muốn được niềm vui đầu
tiên, người Phật tử phải phát niềm
vui đầu tiên, người Phật tử phải
phát tâm tùy hỷ, ai có điều hay, cái tốt đều
vui theo chớ không đố kỵ. Đó là cái vui thứ
nhất của người mới vào đạo.

2.- Cái vui thứ hai sâu
hơn tế nhị hơn là "HỶ XẢ".
Hỷ là mừng, xả là buông bỏ. Hỷ xả
có hai mặt:
- Hỷ xả tài vật bên ngoài.
- Hỷ xả phiền não cố chấp trong lòng.
Nếu chúng ta có tài vật dư dả, nên vui vẻ
xả, giúp cho những người bần cùng đói
rách. Của cải do mồ hôi nước mắt mình
tạo, mình cảm thấy đủ hay dư thì vui
xả cho những người nghèo thiếu hay những
người ít oi hơn. Đó là hỷ xả tài vật
bên ngoài. Tuy vậy cũng hơi khó làm, vì có nhiều
nhiều người, kẻ khác thấy họ dư
mà bản thân họ lại thấy thiếu; có một
đồng, có mười đồng muốn ba mươi
đồng môốn hai đồng, muốn cho đến
ngày tắt thở mà vẫn thấy chưa đủ.
Như vậy làm sao xả được? Cho nên muốn
hỷ xả chúng ta phải học Phật; Phật
dạy ít muốn, biết đủ. Chúng ta biết
đủ thì mới xả được, không biết
đủ thì không thể nào xả được. Người
không biết đủ giống như cái túi không đáy,
bỏ vào bao nhiêu tuột hết bấy nhiêu, bỏ
bao nhiêu cũng không đầy, do cái bệnh không biết
đủ, như vậy làm sao mà xả?
Thí dụ: mỗi ngày buổi trưa chúng ta ăn
ba chén cơm là đủ no, dù có đồ ăn ngon,
chúng ta cũng ăn ba chén, phần dư thì giúp cho người,
hoặc cho vật. Dù đấy là phần dư của
mình, nhưng cũng là một lối xả. Chớ
nên ăn ba chén vừa no, thấy đồ ăn ngon,
ăn thêm nữa, như vậy là phí phạm, vì lượng
thức ăn chừng đó là đủ, ăn thêm
là dư. Đó là nói về cái ăn, còn bao nhiêu cái khác,
chẳng hạn như cái mặc, chúng ta có ba bộ
đồ đủ để mặc, thêm bộ thứ
tư là dư rồi, nhưng có bộ thứ tư
thấy chưa đủ, mua thêm bộ thứ năm
cũng thấy chưa đủ nữa. Như vậy
chừng nào mới xả được. Muốn xả
phải biết đủ, biết đủ mới
xả được, của dư đem giúp người
không một chút luyến tiếc. đó là tâm hỷ xả,
vui vẻ giúp người chớ không bị bắt
buộc.
Hỷ xả tài vật tuy khó nhưng dễ
hơn hỷ xả cố chấp phiền muộn
ở tâm. Khi có người làm phiền mình, thì gương
mặt buồn hoặc nhăn nhó. Muốn hết phiền
phải tập xả; xả này là tha thứ, là bỏ
qua. Phiền ở đây là phiền não và sân hận,
hai thứ đó chất chứa trong lòng, mình phải
buông xả nó đi. Người nào ôm lòng phiền hận
thì đau khổ, đau khổ từ hiện tại
cho đến mai kia, chớ không phải đau khổ
trong hiện tại thôi. Vì vậy, khi biết mình đang
ôm lòng phiền hận người này kẻ khác, thì
phải vui vẻ bỏ, nghĩa là bao nhiêu cái phiền
muộn đang chứa chấp trong lòng phải hỷ
xả hết.
Muốn xả của cải chúng ta phải biết
đủ. Bây giờ muốn bỏ phiền hận,
phải làm sao? Bỏ bằng cách nào? Muốn bỏ
phiền hận trong lòng, chúng ta phải thấy cuộc
đời là vô thường, cái chết đang kề
cận, ôm phiền hận làm gì? Do nghĩ cái chết
sắp đến nên chúng ta buông xả được
phiền hận. Phiền hận chỉ làm khổ mình,
khổ người, không lợi cho ai cả. Quán xét
như vậy chúng ta buông hết, không buồn giận
ai, lo tu cho tâm an ổn.
Tiến hơn nữa, chúng ta thấy cuộc đời
như ảo mộng, ngày nay có mặt đây, ngày mai
đã mất rồi. Sống trong tạm bợ mong
manh; mình tạm bợ, người tạm bợ; tại
sao không thương nhau, nâng đỡ nhau? Nếu chúng
ta biết mình là người bị kêu án tử hình và
những người xung quanh cũng bị kêu án tử
hình, thì đâu có buồn giận nhau. Trong cuộc sống
hàng ngày khi lăn lộn chung chạ nhau, có dẫm lên
nhau, hay có làm phiền toái nhau cũng bỏ qua. Phải
nghĩ đến cái chết, chớ để tâm buồn
giận! Nghĩ đến cái chết, chúng ta mới
thấy cuộc đời là tạm bợ, sống
không cái gì bảo đảm, vậy buồn giận
nhau để làm gì? Hãy buông xả hết những gì
chứa chấp trong lòng. Có ai ở đời mãi đâu
mà giận với hờn!
Chúng ta đã học Phật nhiều năm, vậy
có tập được hạnh buông xả chưa?
Đi chùa cúng Phật có còn giận hờn bạn bè
anh em không? Nếu ai còn phiền giận thì ngay bây giờ
hãy nguyện đức Phật chứng minh xả hết,
cho lòng trống rỗng không còn vướng bận việc
gì. Dù có buồn giận ai từ mười năm hay
hai ba mươi năm, ngày nay dứt khoát phải xã.
Phiền hận là rắn độc, dại gì chúng
ta chứa rắn độc trong nhà. Nếu chứa
rắn độc trong nhà thì sớm muộn gì cũng
bị nó cắn. Thế nên khi biết phiền não là
rắn độc thì phải xa ngay, đuổi ra khỏi
nhà, không dung chứa nó. Biết như vậy là tự
do. Phiền hận thì không vui, hết phiền hận,
tâm hồn rỗng rang trống trải thì rất vui
vẻ. Muốn được vui vẻ, chúng ta phải
tập hỷ xả những vật bên ngoài, hỷ
xả những phiền hận trong lòng. Trong ngoài đều
hỷ xả hết mới có cái vui chân thật.
Sở dĩ đức Phật Di Lặc cười
hoài là vì Ngài hỷ xả, còn chúng ta buồn hoài là vì
chúng ta cố chấp phiền hận. Cố chấp
phiền hận là nguyên nhân của đau khổ, của
bệnh tật, rất xấu xa đê hèn, dứt khoát
phải xả bỏ. Mọi người ai cũng
muốn mình là người vui tươi, ai cũng muốn
mình là người sung sướng, nhưng tại sao
lại chứa cái nhân đau khổ? Có phải tự
mình mâu thuẫn với mình không? Khi nào giận ai, buồn
ai là biết mình đang hại mình làm cho mình xấu
xa, làm cho mình đau khổ, làm cho mình bệnh hoạn.
Biết như vậy là ngày mùng tám tháng giêng có cần
đi cúng sao không? Cúng sao là để cầu năm nay
mình khỏi tai nạn, được vui sướng.
Bây giờ xả hết, không buồn ai không giận
ai thì năm nay an ổn vui sướng rồi, dù có
gặp sao La-hầu, Kế-đô cũng an vui như
ngày xuân, nên không cần cúng sao! Mình không giận ai thì
ai thù mình? Không thù người thì ai hại mình? Đó
là cái nhân làm cho an ổn thực tế. Còn cúng sao là cái
cầu mong huyễn hoặc trên trời, không phải
việc làm thiết thực cụ thể.
Hỷ xả là cái đức rất cần thiết
và quý báu cho cuộc sống hiện tại của chúng
ta. Muốn được an vui, muốn được
tươi đẹp, sống lâu chúng ta phải tu hành
hỷ xả. Người không chịu hỷ xả
là người sẽ chết yểu, bệnh hoạn,
xấu xa. Vậy ngày đầu năm quý vị hãy
tu hành hỷ xả cho trọn năm được
vui như đức Di Lặc. Đó là cái vui thứ
hai.
3.- Cái vui thứ ba là “PHÁP HỶ”.
Pháp là chánh pháp, hỷ là vui. Pháp hỷ là vui với chánh
pháp. Khi nghe kinh học đạo, thấy lời Phật
dạy là chân lý rất thực tế không xa vời
huyễn hoặc có thể thực hành được,
chúng ta thích thú cảm thấy nhẹ nhàng sung sướng,
đó là pháp hỷ hay pháp lạc. Tại sao vui? Vì nghe
kinh học đạo, chúng ta thấy được
lẽ thật, lòng nhẹ nhàng vui sướng, đó
là người được pháp lạc. Còn người
nào nghe kinh học đạo mà gục lên gục xuống,
nghiêng qua ngã lại, người đó không được
pháp lạc. Nếu không có cái vui khi nghe kinh học đạo,
dù có đi chùa cũng khó tinh tấn, vì có thích đâu
mà tinh tấn. Việc gì chúng ta thích thú mới cố
gắng làm, nếu không thích thú thì làm miễn cưỡng
chớ không cố gắng. Người học đạo
phải nghiền ngẫm, mới thấy lời Phật
dạy là chân lý. Thấy được chân lý, chúng ta
mới vui sướng. Cái vui sướng đó là pháp
hỷ hay pháp lạc là cái vui chân thật. Có được
cái vui chân thật mới tinh tấn thích tu hành. Nếu
không được pháp hỷ, có tu chăng, cũng
chỉ cầu mong được tài lợi danh vị…,
chớ không phải vui thích mà tu. Người học
đạo chân chính vui với đạo mà tu, chớ
không phải cầu mong cái gì khác. Như vậy khi nghe
kinh hoặc đọc sách Phật phải chịu khó
nghiền ngẫm tư duy. Tư duy đúng đắn,
tốt cũng thấy được lẽ thật
thì vui thích; cái vui thích đó tạo thành sức mạnh
khiến chúng ta tinh tấn trên con đường tu.
Người do có những lúc vui mừng quá người
ta khóc. Chẳng hạn thân nhân đi đâu xa khoảng
hai mươi năm, ba mươi năm không gặp,
khi gặp lại mừng quá rơi nước mắt.
Trong đạo cũng thế, khi đọc kinh Phật,
có niềm vui cũng cảm động rơi nước
mắt. Đó là trường hợp của ngài Khuê
Phong, Ngài được người bạn tặng
một quyển kinh Viên Giác, đọc qua Ngài vui sướng,
cảm động rơi nước mắt. Đó
là cái vui sướng tột cùng khiến nước
mắt rơi. Người học đạo mà vui như
thế thì không bao giờ thối chuyển. Khi nào đọc
kinh mà thấy Phật nói hay quá cảm động sung
sướng, rơi nước mắt, đó là có duyên
lành khá sâu với Phật pháp. Người được
cái vui đó là người ít bị khó khăn hay chướng
ngại làm lui sụt. Còn khi đọc kinh thấy buồn
ngủ, tụng kinh ngáp dài, thì không tìm được
cái vui trong đạo. Không vui thì sự tu khó tiến
bộ. Đó là cái vui của pháp hỷ hay pháp lạc.
4.- Cái vui sâu hơn nữa là “THIỀN
DUYỆT”. Thiền là thiền định, Duyệt
là vui, thiền duyệt là vui trong thiền định.
Trong nhà Thiền có ta trong lúc tọa thiền, khi thân
tâm an ổn, hơi thở nhẹ nhàng, lúc đó cảm
thấy khinh an thư thới khác hơn bình thường.
Cái vui này lâng lâng nhè nhẹ chớ không phải cái vui
hớn hở nhộn nhàng. Chỉ khi nào chúng ta lắng
sâu trong thiền định, thân an hơi thở điều
hòa tâm định, thì cái vui nhè nhẹ xuất hiện,
cái vui này nhà Phật gọi là “Thiền duyệt”.
Người mới tập ngồi thiền thì thấy
đau chân, thân mỏi nhọc, mồ hôi chảy, chẳng
vui chút nào cả, thấy ngồi thiền khó như
một hình phạt. Nhưng đến lúc quen thì nhẹ
nhàng an ổn. Tới giờ ngồi thiền không ngồi
thấy như thiếu cái gì, giống đến giờ
ăn mà không ăn, cảm thấy khó chịu. Tu thiền
cũng phải như vậy. Đến giờ ngồi
thiền mà không ngồi được, chúng ta cảm
thấy thiếu thốn cái gì, phải đi ngồi
thiền mới thấy an ổn, giống như đói
cần ăn, phải ăn mới no. Do đó mà nói
“Thiền duyệt vi thực”. Người tu ít ai lấy
cái vui trong thiền định làm thức ăn, vì phải
khổ nhọc tu tập lâu dài, công phu đắc lực
mới có trạng thái an vui đó, chớ không phải
ngồi năm tháng ba tháng mà được. Buổi
đầu tiên ngồi thiền nhọc nhằn khổ
sở lắm; qua giai đoạn nhọc nhằn khổ
sở, sau đó mới được an vui. Cái an vui
này là thiền duyệt. Bao giờ chúng ta thấy cái
vui thiền định không thể thiếu như bữa
cơm không thể thiếu khi đói, mới được
gọi là “Thiền duyệt vi thực”. Đó là cái vui
thứ tư.
5.- Đến cái vui thứ năm
khó hơn là: “TỊCH LẠC”. Cái vui này ít được
nghe nói. Nó phát xuất từ tâm tịch tịnh được
diễn đạt qua bốn câu kệ trong kinh Đại
Niết Bàn:
Chư hành vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc.
Tịch lạc được ghép chữ đầu
và chữ cuối của câu kệ chót là vui, đó là
cái vui cứu cánh của người tu. Hai cái vui đầu
gần gũi với người mới học đạo,
thế mà đa số người học Phật chưa
thực hiện được, phải thực hiện
từ cái vui thứ nhất đến cái vui thứ
hai, có được hai cái vui đó rồi mới đến
cái vui thứ ba, thứ tư, cuối cùng tới cái
vui thứ năm là tịch lạc. Tịch là lặng
lẽ, lạc là vui, tịch lạc tâm lặng lẽ
an vui. Cái vui này như thế nào?
Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp. Hành
ở đây là hoạt động, tức là thân miệng
ý hoạt động. Thân miệng ý hoạt động
thì thành nghiệp, hoặc nghiệp thiện hoặc
nghiệp ác. Nghiệp phát xuất từ ý nghĩ, miệng
nói, thân làm; song ý nghĩ rồi mất, miệng nói rồi
mất, thân hành động rồi mất. Thân miệng
ý là chỗ tạo nghiệp sanh diệt vô thường,
nên nói: “Thị sanh diệt pháp” tức là pháp sanh diệt
không bền chắc. Như vậy tất cả hành
động tạo tác trên thế gian đều vô thường
nên đau khổ. Khi nào “Sanh diệt diệt dĩ”,
thì “Tịch diệt vi lạc.” Cái vui này quá sâu kín cũng
gọi là cái vui Niết bàn. Sau khi cái sanh diệt nó diệt
hết rồi mới tới chỗ tịch diệt.
Sanh diệt ở đây là sanh diệt của nghiệp
ý, nghiệp khẩu và nghiệp thân, nhưng chủ
yếu là ý, vì ý chủ động cho nên nghiệp ý
lặng rồi dù có nói có làm cũng là tịch diệt.
Như vậy sau khi vọng tưởng lặng hết
rồi không còn dấy động nữa thì tâm tịch
diệt. Tâm tịch diệt là chỗ an ổn chân thật
bất sanh bất diệt. Tâm bất sanh bất diệt
đó là Niết-bàn. Đó là cái vui cứu cánh chân thật
ít người hưởng được.
Chúng ta học và tu theo Phật có cái vui cạn và cái vui
sâu. Thứ nhất là cái vui do tùy hỷ thật dễ
làm không tốn công, chỉ xả tâm tật đố
của mình là được. Thứ hai là cái vui tốn
công tốn của xả bỏ tài vật của mình
và xả bỏ những cái chứa chấp trong tâm niệm
mình. Hai cái đó xả được là có cái vui hỷ
xả. Thứ ba là cái vui pháp hỷ hay pháp lạc. Cái
vui này phải có công phu nghiền ngẫm, nghiên cứu
Phật pháp chúng ta mới được niềm an
vui trong đạo lý. Thứ tư là thiền duyệt,
thiền duyệt thì phải có công phu nhiều tháng nhiều
năm tu hành mới được cái vui thiền duyệt.
Được cái vui thiền duyệt rồi cuối
cùng mới được cái vui tịch lạc, tức
là tâm lặng lẽ, rỗng rang không còn một niềm
day động, thấy tất cả sự vật
cái gì cũng nên thơ, đẹp đẽ. Không còn
phân biệt đây là xấu, kia là tốt, đây là hay
kia là dở, chỉ một niệm chân thật. Cho nên
trong nhà Thiền gọi là: “Xúc mục tức Bồ-đề”;
tức là nhìn cái gì cũng là Bồ-đề, là giác
ngộ; thấy người vật đều vui, đều
đẹp. Tất cả là mùa Xuân không có cái gì buồn
xấu. Như vậy nếu tới được
chỗ vui đó, thì chúng ta hưởng được
mùa xuân vĩnh cửu, không bao giờ mất.
Thiền sư Phật Nhãn hiệu Thành Viễn đời
Tống ở Trung Hoa có một bài thơ nói về xuân
như sau:
Xuân
nhựt xuân sơn lý
Xuân sự tân giai nhân
Xuân quang chiếu xuân thủy
Xuân khí kết xuân vân
Xuân khách xuân tình động
Xuân thi xuân cánh tân
Duy hữu thức xuân nhơn
Vạn kiếp nguyên nhất xuân
Tạm dich:
Ngày xuân xuân trong núi
Việc xuân thảy đều xuân
Hồ xuân ánh xuân chiếu
Khí xuân kết mây xuân
Khách xuân lòng xuân động
Thi xuân xuân càng tuơi
Chỉ có người biết xuân
Muôn kiếp một mùa xuân
Tại sao toàn bài thơ câu nào cũng là xuân hết vậy?
Ngày xuân, xuân trong núi: Ngày xuân trong núi giống hệt như
xuân hôm nay. Tức là ngày vui, vui ở trong núi.
Việc xuân thảy đều xuân: Nếu lòng mình nhẹ
nhàng thênh thang, không buồn, giận, hờn, phiền,
không dấy niệm phân chia thì cái gì cũng là xuân, thấy
ai cũng đẹp đẽ dễ thương. Sở
dĩ chúng ta không vui được là vì thấy cái này
xấu, cái kia tốt; thấy người này dễ
thương, người kia dễ ghét… Thấy người
dễ ghét thì hết xuân, mặt xụ suống làm sao
vui được. Còn thấy ai cũng dễ thương
thì gặp ai mình cũng nở nụ cười, không
phải xuân là gì? Trên mặt mình lúc nào cũng là mùa xuân,
cho nên thấy cái gì cũng xuân. Tất cả đều
là xuân.
Hồ xuân ánh xuân chiếu: Hồ nước mùa xuân
ánh nắng mặt trời soi sáng dưới mặt
hồ cũng xuân, cái gì cũng đẹp hết.
Khí xuân kết mây xuân: Mây loáng thoáng lưa thưa ở
chung quanh núi, mái nhà, vườn cây là những mây nhạt
gọi là xuân khí. Xuân khí đó kết thành những cụm
mây, những cụm mây đó cũng là mây xuân. Như
vậy nhìn người, nhìn mây, nhìn nước, nhìn
vật cũng là xuân; tất cả đều là xuân.
Tại sao vậy? Tại vì trong lòng vui tươi như
mùa xuân nên thấy người cảnh đều xuân.
Nếu trong lòng buồn bã như đêm ba mươi
thì thấy cái gì cũng buồn bã tối đen. Sỡ
dĩ thấy cảnh vật ở ngoài đẹp là
do trong lòng mình đẹp.
Khách xuân lòng xuân động: Như người khách
trong mùa xuân, thấy cảnh đều vui theo, tức
lòng động theo mùa xuân.
Thi xuân xuân càng tươi: Mùa xuân đã tươi rồi,
thi nhân còn tô điểm làm cho nó tươi đẹp
thêm.
Chỉ có người biết xuân, muôn kiếp một
mùa xuân: Cảnh xuân, khách xuân, tình xuân v.v… là cái bên ngoài.
Chỉ có người biết được xuân, mới
vui xuân muôn kiếp. Mùa xuân đó là mùa xuân Di Lặc, cười
hoài muôn kiếp, không bao giờ có vẻ mày sầu mặt
héo. Đó là mùa xuân tươi đẹp, đầy
cả bầu trời, tràn trề cả nhân thế.